dac-diem-sinh-thai-cua-kien_main
Kiến,Tin tức

Đăc điểm sinh thái học của kiến

Đăc điểm sinh thái học của kiến
5 (100%) 1 vote

Nguồn gốc về loài kiến

Kiến là loài côn trùng có tính xã hội cao thuộc họ Formicidae. Chúng tiến hóa từ tổ tiên có liên hệ với loài ong bắp cày ngày nay vào kỷ Creta, khoảng 99 triệu năm trước và đa dạng hóa sau khi thực vật ra hoa phát triển.

Họ Formicidae thuộc bộ Hymenoptera, bao gồm ong cắn lá, ong và ong bắp cày. Kiến tiến hóa từ một dòng ong bắp cày có ngòi đốt, và một nghiên cứu vào năm 2013 cho rằng chúng là một nhóm chị em với liên họ Apoide.

Kiến có thể dễ dàng nhận diện nhờ vào râu gấp khúc và cái eo nhỏ dạng nốt tròn. Tìm hiểu thêm Kiến trông như thế nào?

Nguồn gốc của loài kiến

Trong suốt kỷ Creta, vài loài kiến nguyên thủy phân bố rộng rãi ở siêu lục địa Laurasia (Bắc bán cầu). Số lượng chúng khá ít so với các loài côn trùng khác, chỉ khoảng 1% so với toàn thể giới côn trùng. Kiến bắt đầu chiếm ưu thế sau khi thích nghi với sự bức xạ vào đầu kỷ Paleogen. Vào thế Oligocen và Miocen, kiến chiếm khoảng 20-40% số lượng côn trùng hiện diện trên hành tinh (dựa vào các hóa thạch tìm được vào thế kỉ này).

Trong số các loài kiến sống ở kỷ nguyên Eocen, khoảng 1 trong 10 chi còn sống cho đến ngày nay. Chi sống đến hiện tại gồm 56% trong các hóa thạch hổ phách Baltic (đầu kỳ Oligocen) và 92% chi trong hóa thạch hổ phách Dominican (xuất hiện đầu kỳ Miocen).

Đã có hơn 12,000 loài kiến được ghi nhận (nhưng ước tính con số thực tế có thể sẽ cao hơn, vào khoảng 22,000), với tính đa dạng mạnh mẽ nhất tại vùng nhiệt đới.

Hình thành cách thức giáo dục trong một cộng đồng

Nhiều loài động vật có thể học tập tính này bằng cách bắt chước, nhưng kiến là nhóm duy nhất khác với động vật có vú khi cách giáo dục tương tác của chúng được quan sát.

Vài loài kiến nhất định sử dụng kỹ thuật được gọi là “đường chạy liên hoàn” để dẫn các con kiến còn lại di chuyển từ tổ đến nguồn thức ăn. Các tín hiệu giữa 2 con kiến kiểm soát tốc độ và hướng chạy. Đây chắc chắn là lần đầu tiên một luận chứng về việc giảng dạy chính thức được công nhận ở một sinh vật không phải con người.

Tập tính này cung cấp thông tin rất có giá trị, rằng bất chấp hạn chế về kích thước của bộ não, chúng không mấy tác động đến sự tiến triển trong quá trình giảng dạy.

Vào thời điểm khởi đầu của “đường chạy liên hoàn”, con lãnh đạo sẽ tìm một cá thể ngờ nghệch sẵn sàng để theo sau nó. Nhưng quá trình này diễn ra khá chậm vì kẻ theo sau thường xuyên dừng lại để nhìn ngắm xung quanh để nhớ đường. Chỉ khi kẻ theo sau hoàn thành việc này, nó mới gõ lên chân và bụng con lãnh đạo để cho hắn biết “đường chạy liên hoàn” có thể tiếp tục.

Tập tính bắt chước của loài kiến

Các nhà khoa học đã phân tích chi tiết về sự di chuyển của con lãnh đạo và kẻ theo sau trong quá trình tham gia “đường chạy liên hoàn” và nhận được nhiều kết quả: nếu khoảng cách giữa chúng quá xa, con lãnh đạo sẽ giảm tốc độ và con theo sau sẽ tăng tốc, và nếu khoảng cách giữa chúng quá gần, chúng sẽ thực hiện ngược lại.

Lợi ích từ qua trình này là con theo sau sẽ học được nơi có thức ăn nhanh hơn khi nó hoạt động độc lập.

Dĩ nhiên, việc giảng dạy ở kiến cho thấy việc các loài động vật với bộ não nhỏ bé có thể phát triển tương tự trong công cuộc giảng dạy. Điều này có thể là thông tin hữu ích rằng những loài động vật có tính xã hội cao sẽ xác định khi nào nên phát triển việc giảng dạy, bất chấp kích thước của bộ não.

Hình thức tự cung tự cấp

Về tổng quan thì đa số kiến là loài ăn thịt, xác thối và ăn cỏ gián tiếp, nhưng số ít có vài cách đặc biệt để hấp thụ dinh dưỡng. Người ta tin rằng nhiều loài kiến tiến hành ăn cỏ gián tiếp nhờ vào sự cộng sinh đặc biệt với các vi khuẩn trong ruột để nâng cấp các giá trị dinh dưỡng trong thức ăn chúng thu thập được và cho phép chúng tồn tại ở những vùng thiếu khí Nitơ, như vòm rừng mưa nhiệt đới.

Được đặt tên là kiến cắt lá, chúng sống hoàn toàn nhờ nấm được trồng trong tổ. Chúng thu thập lá cây về tổ, cắt thành nhiều mảnh nhỏ và đặt vào vườn nấm. Kiến thợ nhận nhiệm vụ liên quan trong tổ dựa theo kích thước của chúng. Những con kiến lớn nhất cắt cuống lá, kiến thợ nhỏ hơn nhai lá và những con nhỏ nhất chăm sóc nấm. Kiến cắt lá đủ nhạy cảm để nhận biết phản ứng của nấm trước các thực vật khác, có lẽ nhờ vào các tín hiệu hóa học từ nấm. Nếu tổ kiến phát hiện một loại lá độc hại với nấm, chúng sẽ ngừng việc thu thập nó.

Kiến cắt lá thu thập lá cây về tổ

Kiến ăn các phần sản xuất bởi nấm gọi là Gongylidia. Các vi khuẩn cộng sinh trên lớp vỏ ngoài của kiến tiết ra kháng sinh diệt vi khuẩn được mang vào tổ có thể gây hại đến nấm.

Mối quan hệ giữa các loài kiến trong quần thể sinh vật

Không phải tất cả kiến có cùng một kiểu xã hội. Vài loài (điển hình như kiến đường) tấn công và chiếm tổ kiến cạnh bên. Phần còn lại ít bành trướng hơn, nhưng cũng khá hung hãn; chúng xâm lược các tổ kiến khác để đánh cắp trứng hoặc ấu trùng, dùng làm thức ăn hoặc nuôi làm kiến thợ, nô lệ. Kiến xác định họ hàng và đồng loại trong tổ nhờ mùi của chúng, từ các chất bài tiết chứa hydrocacbon phủ trên khung xương ngoài. Nếu một con kiến bị tách khỏi tổ của nó, chúng sẽ hoàn toàn mất mùi đặc trưng của tổ. Bất cứ con kiến nào vào tổ mà không có mùi này sẽ bị tấn công. Vì thế, nguyên nhân 2 tổ kiến riêng biệt tấn công lẫn nhau mặc dù chúng cùng một loài là vì gene quyết định sự sản sinh pheromone của chúng khác nhau.

Mối quan hệ giữa các loài kiến trong quần thể

Mối quan hệ với các sinh vật khác

Mối quan hệ giữa kiến với các sinh vật khác trong quần thể

Kiến hình thành liên kết cộng sinh với nhiều loài, bao gồm các loài kiến khác, côn trùng, thực vật và nấm. Chúng cũng đi săn nhiều loài động vật và vài loại nấm nhất định. Vài loài động vật chân đốt dành phần lớn vòng đời sống trong tổ kiến, kể cả khi bị kiến săn được, ấu trùng và trứng của chúng tiêu thụ thức ăn dự trữ của kiến và tránh kẻ thù tự nhiên.

Tin tức khác